'Thoát Trung': Nên học theo cách làm của Nhật Bản

(Doanh nghiệp) - "VN chỉ nên đặt ra vấn đề phụ thuộc vào TQ ở mức nào là hợp lý thay vì hô khẩu hiệu phải “thoát Trung”"- chuyên gia, TS. Nguyễn Trí Hiếu.

Tại phiên thảo luận kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, một vị ĐBQH đã thẳng thắn nếu vấn đề, tại sao lại có sự lệ thuộc quá nhiều vào TQ để đến nỗi “muốn dứt mà… không được”.

Góp ý về vấn đề này, chuyên gia kinh tế - TS.Nguyễn Trí Hiếu nhận định, trong bối cảnh kinh tế hiện nay trả lời được câu hỏi làm sao giảm lệ thuộc vào TQ là bài toán rất khó. TQ được ví như công xưởng sản xuất của cả thế giới, không riêng VN ngay cả Mỹ, Châu Âu đều đang phụ thuộc vào TQ. Đó là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi.

Cà chua rẻ mạt, dân đổ ra đường
Cà chua rẻ mạt, dân đổ ra đường

Trong khi đó, VN là nước có nền kinh tế nhỏ, lạc hậu nên dù muốn hay không, việc phụ thuộc vào TQ là điều đương nhiên. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, vấn đề của VN hiện nay là sự phụ thuộc quá lớn vào các sản phẩm sản xuất của TQ, từ máy móc thiết bị tới giống, phân bón, thậm chí cả rau, củ những sản phẩm tự mình sản xuất được, chất lượng tốt hơn… cũng nhập khẩu từ nước này.

"Đấy chính là nguyên nhân vì sao dù quyết tâm giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường TQ đã được hô hào rất nhiều nhưng tới nay vẫn chỉ dừng lại ở “khẩu hiệu” mà chưa có dấu hiệu chuyển biến tích cực. Ngay cả khi VN xác định được mục tiêu, phương hướng và cách thức cụ thể cũng chỉ nên đặt ra vấn đề lệ thuộc vào TQ ở mức nào là hợp lý thay vì hô khẩu hiệu phải “thoát Trung”, ông Hiếu nói.

Giảm lệ thuộc vào TQ thế nào là hợp lý?

PV:- Vấn đề giảm lệ thuộc vào một thị trường mà cụ thể là thị trường TQ cần thiết với VN đến mức độ nào, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, thưa ông?

TS.Nguyễn Trí Hiếu: - Việc phân bổ thị trường đồng đều một cách hợp lý là để giảm thiểu những tác động rủi ro từ một khách hàng hay một thị trường đem lại. Nó là nguyên lý luôn luôn đúng và hợp lý trong mọi điều kiện, mọi lĩnh vực và với mọi doanh nghiệp. Với VN nó không chỉ đúng với TQ mà ngay cả với Mỹ và tất cả các thị trường khác.

Bài học nhãn tiền khiến người dân VN điêu đứng là khi bị Mỹ áp luật chống phá giá để hạn chế nhập khẩu cá tra, cá basa. Còn với thị trường TQ thì nông dân luôn chịu cảnh bị ép giá, mua rẻ, bán rẻ; dưa hấu đổ cho bò, cà chua không ai mua… nông dân nhận thua lỗ, thiệt thòi…

Tuy nhiên, trong mối quan hệ giao thương giữa VN với thị trường TQ luôn phức tạp hơn nhiều, bởi không chỉ nhìn trên quan điểm kinh tế-xã hội mà phải nhìn trên cả quan điểm địa lý, chính trị.

Nền kinh tế nhỏ bé của VN vốn đã bị phụ thuộc vào TQ cả về XNK, cả đầu vào và đầu ra thì quan hệ mậu dịch-thương mại giữa hai nước đã bị ảnh hưởng ngay lập tức. Trả lời được câu hỏi làm sao VN giảm được phụ thuộc vào TQ là bài toán rất khó. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngay cả Mỹ, Châu Âu cũng đang phụ thuộc vào TQ, với một nền kinh tế nhỏ bé như VN lại đang bị phụ thuộc vào các nước khác trên thế giới việc thoát khỏi TQ là điều khó có thể làm được. 

Tại thời điểm này, VN chưa thể tìm được một thị trường cung cấp nguyên vật liệu, máy móc giá rẻ, chất lượng tương đối để thay thế TQ. VN cũng chưa thể tìm được một thị trường dễ dàng chấp nhận những sản phẩm, mặt hàng chất lượng thấp của VN. Dù có tìm được thị trường thay thế, chi phí chắc chắn sẽ đội lên, doanh nghiệp VN không đủ sức.

Hơn nữa, GDP của VN mỗi năm đạt 180 tỷ đô la, đó chỉ là con số rất nhỏ trong tổng GDP toàn cầu, VN chưa có một vị thế đủ vững để có khả năng làm chủ và quyết định được phụ thuộc hay không phụ thuộc. Nhất là trong mối quan hệ với TQ. Do đó, VN chỉ nên đặt ra mục tiêu “phụ thuộc vào TQ thế nào là hợp lý, thay vì cách nói "thoát Trung” như hiện nay.

Không có rào cản, VN sẽ thành bãi rác công nghệ

PV:- Chưa thể “thoát Trung”, chưa giảm được phụ thuộc, VN lại đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ "đời 2" của Trung Quốc (do Trung Quốc đang trong giai đoạn loại bỏ công nghệ lạc hậu. Như vậy diện mạo nền kinh tế VN sẽ thế nào. Hậu quả nhìn thấy là gì, thưa ông?

TS.Nguyễn Trí Hiếu: - Tôi rất chia sẻ với những lo lắng đó. Thứ nhất phải khẳng định VN không muốn trở thành bãi rác thải công nghệ của thế giới càng không muốn trở thành bãi rác của TQ. Nhất là trong giai đoạn hiện nay TQ đang chuyển mình để tiến tới một trình độ phát triển cao hơn, thì TQ phải sẽ phải đẩy ra khỏi ngành sản xuất một loạt những loại máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu được cho là phế phẩm.

Để làm được như vậy TQ phải tìm được nơi tiêu thụ, trong khi đó VN lại là nước ngay sát nách, có trình độ thấp hơn dễ dàng thu nhận hơn.

Mà thực tế, dư luận đã rất nhiều lần phản ánh những trái đắng của ngành công nghiệp VN do nhập khẩu công nghệ lạc hậu từ TQ. Thế nhưng, tới nay việc nhập khẩu thiết bị, công nghệ Trung Quốc vẫn không giảm bớt: lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ Trung Quốc; xi măng lò đứng bị xóa sổ, xi măng lò quay nhập về nhiều hơn và chủ yếu từ Trung Quốc, công nghệ dệt may, giày dép.

Cũng phải nhìn ở chiều ngược lại, không chỉ có TQ muốn đẩy rác thải công nghệ sang VN mà ngay cả các doanh nghiệp VN vì trình độ công nghệ thấp, giá rẻ nên cũng chủ động nhập công nghệ Trung Quốc về.

Phải khẳng định, đó là lỗi của người VN. Không thể lấy lý do trình độ thấp thì dễ dàng chấp nhận sản phẩm công nghệ có chất lượng thấp. Đó là điều rất nguy hiểm. Mua giá rẻ có thể nhìn thấy cái lợi trước mắt nhưng giá trị sản xuất, giá trị gia tăng về lâu dài sẽ không thể so sánh được và như vậy vô hình chung sẽ là “ham rẻ mà hóa đắt”.

Về phía các nhà quản lý, cũng phải có chiến lược và đối sách để ngăn chặn tình trạng này, bản thân doanh nghiệp cũng phải hướng tới lựa chọn sản phẩm mang tính bền vững, lâu dài. Nếu không có đối sách kịp thời, VN sẽ trở thành bãi đáp chứa rác thải công nghệ của TQ trong tương lai là hiển nhiên.

Nên học bài học của Nhật Bản

PV:- Như vậy, có thể hiểu, việc "thoát Trung" phải dựa vào nội lực của bản thân nền kinh tế mà điều này đang thiếu ở Việt Nam, thưa ông?

TS.Nguyễn Trí Hiếu:- Đúng vậy. Để trám khuyết điểm đó những cơ quan chức năng phải có những cơ chế giám sát, đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp VN.

Như chúng ta đã thấy, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2014 của Việt Nam đang xếp thứ 68 trên 144 quốc gia, tức là năng lực cạnh tranh của VN đang được chấm điểm rất thấp. Trong vòng 6 năm tới tức năm 2020 Việt Nam phải vươn lên hạng 48, tức là lọt vào nhóm 1/3 các quốc gia trên thế giới có năng lực cạnh tranh cao nhất.

Hiện nay chúng ta đang ở ngưỡng các quốc gia có năng lực cạnh tranh thấp nhất. Khi chúng ta tăng năng lực cạnh tranh toàn cầu chúng ta dễ dàng đi tìm thị trường mới cho cả hai chiều, xuất và nhập khẩu, và lúc đó sự lệ thuộc kinh tế và mậu dịch vào TQ sẽ kiểm soát được dễ dàng hơn.

Ở đây cũng phải nhìn nhận vai trò, trách nhiệm của các nhà quản lý, cần phải có định hướng, chiến lược đặt ra những tiêu chí đánh giá, sàng lọc từng thị trường… tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp trong nước từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Với thị trường TQ, cần phải rà soát, phân loại cơ cấu sản phẩm để có sự sàng lọc, lựa chọn sản phẩm phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, sản phẩm nào khuyến khích phát triển trong nước. Phân khúc sản phẩm được lựa chọn phải hướng tới một mục tiêu chung là giá cả hợp lý nhưng chất lượng ổn định, bền vững không nên ham của rẻ, của ôi.

Bên cạnh đó cũng cần phải phát huy ý thức tự chủ, năng lực tự thân của mỗi doanh nghiệp. Nghĩa là mua sản phẩm nhưng phải tiến tới sẽ làm chủ sản phẩm đó, DN không nên ỉ lại với tư duy cứ có tiền là chạy sang TQ mua hàng. Nếu cứ với tư duy như vậy thì 10 năm nữa VN vẫn phải chạy theo sự tụt hậu như hiện tại.

Chúng ta hãy học kinh nghiệm từ Nhật Bản. Cách đây khoảng 50 năm các sản phẩm của Nhật “Made in Japan” được xem là sản phẩm loại “hàng rởm và rẻ tiền” của thế giới vì lúc đó Nhật chuyên đi “ăn cắp” công nghệ của Tây Phương để chế tạo sản phẩm rẻ trên thị trường thế giới.

Tôi còn nhớ lúc đó tôi đang đi học trung học ở Sài Gòn, học sinh chúng tôi xem thường những bát đĩa, ly tách “Made in Japan” và ưa chuộng sản phẩm “Made in Germany”, “ Made in France” hay “Made in USA”. Nhưng không ai ngờ được rằng người Nhật đã rất khôn ngoan khi nắm được công nghệ của Tây Phương họ đã sang tạo để biến những công nghệ đó trở thành công nghệ của họ và còn cải tiến để vượt xa Tây Phương.

Sau 50 năm ngày nay tất cả các sản phẩm “Made in Japan” được xem là loại sản phẩm cao cấp nhất thế giới, từ chiếc xe hơi, máy ảnh đến công nghệ thông tin, ly tách, thực phẩm như bia, rượu sake.

Học bài học của Nhật để áp dụng cho quan hệ mậu dịch với TQ. Liệu chúng ta phải làm gì để trong khi mua sản phẩm của TQ chúng ta cũng mua cả công nghệ của TQ được gói ghém trong những sản phẩm họ bán cho chúng ta?

"Thoát Trung": Nhập từ cái tăm..., có lợi ích nhóm không?

PV:- Nhìn tổng thể nền kinh tế, động lực của nền kinh tế là doanh nghiệp vừa và nhỏ đang chết hàng loạt, các DNNN làm ăn thua lỗ liên miên, nông nghiệp là người khổng lồ chân đất sét, chúng ta phải đặt vấn đề việc giảm phụ thuộc thị trường Trung Quốc như thế nào là phù hợp, để quyết tâm đi liền với hành động? Cùng với đó, nền kinh tế Việt Nam cần phải thay đổi điều gì đầu tiên để có thể bắt đầu nghĩ tới việc đứng vững trên đôi chân của mình?

TS.Nguyễn Trí Hiếu: - Về ngắn hạn, để giảm phụ thuộc vào TQ,VN phải định nghĩa lại quan hệ mậu dịch VN-TQ là như thế nào. Nhìn lại kim ngạch xuất khẩu, đặt mục tiêu rõ ràng cho từng giai đoạn, tỉ lệ hạn chế cụ thể. Thị trường nào sẽ thay thế thị trường TQ, mục tiêu VN hướng tới là gì? Nhưng tới nay tôi mới thấy sự quyết tâm chứ chưa thấy kế hoạch cụ thể.

Việc phải làm hiện nay là phải đánh giá lại cơ cấu sản phẩm mua bán giữa VN-TQ, phải tính được có bao nhiêu con ốc vít đang được nhập khẩu từ TQ, từ đó mới tính toán chia sẻ thị trường, giảm bớt tỉ lệ nhập khẩu của thị trường này.

VN còn rất nhiều thị trường nên để ý như thị trường Châu Phi, Nam Mỹ và ngay cả những thị trường bên cạnh VN. VN cần mở rộng quan hệ, khai thác thương mại với các thị trường khác để chia sẻ kim ngạch, dần thay thế thị trường TQ.

Về trung hạn, tôi nhắc lại bài học từ Nhật Bản để chúng ta trong khi mua hàng của TQ chúng ta phải quan tâm và nghiên cứu học hỏi các công nghệ hiện đại của TQ gói ghém trong những sản phẩm của họ, Một ngày nào đó “Made in Vietnam” là một thương hiệu cao cấp cạnh tranh trực tiếp với “Made in China” trong thương mại toàn cầu.

Về lâu dài, nền kinh tế VN phải thay đổi tư duy, nhận thức tiến tới phát triển theo cơ chế thị trường, và nền kinh tế Việt Nam được thế giới công nhận như nền kinh tế thị trường toàn diện. Nếu vẫn còn tư duy bao cấp, trong đó DNNN vẫn nắm quyền chủ đạo trong khi các doanh nghiệp tư nhân chưa phát triển và sáng tạo đúng khả năng thì sẽ không thể tạo ra các yếu tố sáng tạo kích thích nền kinh tế phát triển đúng mức và chừng đó sự phụ thuộc tuyệt đối vào TQ là điều hiển nhiên.

 PV:- Xin cảm ơn ông!

  • Vũ Lan

Thứ Ba, 04/11/2014 13:57

Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện