Thoát Trung: Nhập từ cái cúc áo... Việt Nam còn phụ thuộc!

(Doanh nghiệp) - Dù muốn hay không Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc và chiếm tỉ trọng lớn trong thời gian tới...

'Không nên bỏ trứng vào một giỏ'

PV:- Thưa ông, trong các kỳ họp Quốc hội gần đây, các đại biểu Quốc hội đã nhiều lần đề cập đến mối lo làm sao giảm bớt sự lệ thuộc về kinh tế từ Trung Quốc. Báo cáo tình hình KTXH tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII vừa rồi của Chính phủ cũng kêu gọi đa dạng hóa và không để phụ thuộc vào một thị trường. Tại sao kinh tế Việt Nam lại phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc như vậy để đến nỗi chúng ta phải canh cánh mối lo này mãi, thưa ông?

ĐBQH Bùi Đức Thụ: - Quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra từ rất lâu và đặc biệt hơn những nước khác vì nhiều lý do. Thứ nhất, do gần đường biên giới, vận chuyển dễ dàng, nhanh gọn; thứ hai, vì hàng hóa của Trung Quốc đáp ứng được nhu cầu mua của Việt Nam, chất lượng cũng phù hợp nên Việt Nam mua nhiều hàng của Trung Quốc nhiều hơn, trong đó chủ yếu là nguyên vật liệu đầu vào như máy móc nông nghiệp, phân bón, giống, sắt, thép...

Sau việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên Biển Đông cùng những biến động bất ổn về thị trường kinh tế thế giới, chính phủ cũng như Quốc hội đã nhiều lần đặt vấn đề về đa dạng hóa thị trường để tránh tình trạng phụ thuộc vào một thị trường trong đó có thị trường TQ.

Ngành dệt may đang nhập hầu hết cả nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
Ngành dệt may đang nhập hầu hết cả nguyên liệu đầu vào cho sản xuất

Việc thực hiện đa dạng hóa thị trường thế nào trước hết là trách nhiệm của DN trong việc chủ động tìm kiếm, mở rộng, khai thác nhiều thị trường. Nhà nước chỉ đóng vai trò tạo điều kiện cho DN mở rộng, quảng bá sản phẩm của mình. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua vấn đề chuyển đổi của DN theo hướng đa dạng hóa thị trường còn rất chậm.

Nó phụ thuộc vào năng lực maketing, khả năng quảng bá, mở rộng thị trường của DN đó. Thứ hai là, phụ thuộc vào sức cạnh tranh của sản phẩm của DN đó như giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn sẽ xâm nhập thì trường dễ hơn.

Từ những hạn chế như vậy mà việc mở rộng thị trường, tìm kiếm thị trường của DN VN đang gặp rất nhiều khó khăn.

PV:- Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan mới đây cho thấy các mặt hàng xuất khẩu của VN chủ yếu là nông sản có dấu hiệu giảm nhẹ và vẫn bị phụ thuộc chủ yếu vào thị trường Trung Quốc. Cụ thể,  9 tháng qua, Trung Quốc vẫn là đối tác lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt Nam với 1,7 triệu tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2013. Tương tự, Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 9 tháng với 292 nghìn tấn, chiếm tới 42% lượng cao su xuất khẩu của cả nước.

Bên cạnh đó Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt nam từ phân bón đến máy móc thiết bị, phụ tùng...

Như vậy dù mong muốn cải thiện cán cân thươn mại để bớt lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc nhưng thực tế buôn bán với thị trường này lại không hề thay đổi, và theo hướng Việt Nam ngày càng thất thế hơn. Ông có thể nói gì về điều này trong bối cảnh, việc thoát Trung đã được đặt ra khá cấp thiết sau sự kiện giàn khoan? Cái khó của Việt Nam là gì?

ĐBQH Bùi Đức Thụ:- Thứ nhất, cao su và một số mặt hàng khác của Việt Nam sản xuất ra là phải có thị trường. Nếu không tiêu thụ được nó sẽ tác động ngược trở lại khiến nền sản xuất bị co hẹp lại. Nếu thị trường không có mà tiếp tục sản xuất giá sẽ bị giảm đột ngột, khiến hàng hóa, sản phẩm của Việt Nam rơi vào tình trạng như vừa qua như vừa qua: nông dân phải chặt bỏ hàng loạt cao su, thanh long đổ cho bò, dưa hấu vứt đầy đường... Trong điều kiện Việt Nam chưa mở rộng được thị trường sang các nước thì phải duy trì thị trường hiện tại là thị trường Trung Quốc để tiêu thụ sản phẩm đó cũng là tất yếu.

Còn câu chuyện làm sao để mở rộng được thị trường sang các nước là câu hỏi lớn, phải có sự hỗ trợ của nhà nước và quan trọng hơn cả là nội lực tự thân của chính mỗi doanh nghiệp. 

Về mối quan hệ kinh tế, thương mại với Trung Quốc phải hiểu thế này, trong phát triển đầu tư kinh tế Việt Nam phát triển ở trình độ thấp, đi sau các nước rất nhiều do đó Việt Nam cần phải huy động nhiều thị trường nhất là thị trường quốc tế. Đồng thời cũng phải thu hút các nguồn lực, Trung Quốc là một trong những đối tác của Việt Nam, và cũng đóng góp một phần rất lớn trong phục hồi và phát triển kinh tế Việt Nam.

Trong thương mại, kinh doanh mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc cũng phải được nhìn nhận một cách khách quan, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc lớn nhưng ngược lại cũng nhập khẩu từ Trung Quốc rất nhiều.

Theo thống kê hiện nay, Việt Nam đang nhập siêu từ TQ hơn 10 tỷ đô la trong 1 năm, do đó tôi cho rằng căng thẳng về chính trị hay ngoại giao nhưng về kinh tế Trung Quốc không thể không tính đến.

Về phía Việt Nam, chỉ đạo điều chỉnh quan hệ thương mại theo hướng đa phương hóa, không phụ thuộc một thị trường là đúng. Việt Nam không nên bỏ trứng vào một giỏ để giảm thiểu những rủi ro.

Tuy  nhiên, thực hiện được đến đâu nó còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề trong đó có khả năng tiếp thị, khả năng xâm nhập thị trường, khả năng cạnh tranh sản phẩm, phụ thuộc vào khả năng tổ chức quảng bá cũng như nhiều yếu tố khác.

Đó chính là cái khó của Việt Nam cũng là cái khó chung của mọi quốc gia. Nhưng đối với Việt Nam là một nền kinh tế thấp kém, sức cạnh tranh hàng hóa không cao, thì việc xâm nhập thị trường lại càng khó khăn hơn so với các nước.

Nhập từ cái cúc áo...

PV:- Thậm chí, một chuyên gia trong ngành nông nghiệp vừa chỉ rõ "động thái lạ" từ hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với thị trường Trung Quốc: trong khi xuất khẩu trì trệ (do Trung Quốc không nhập khẩu) thì nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc lại vẫn tăng rất mạnh: máy móc nông nghiệp, giống, phân bón... Có thể thấy được cảnh báo gì từ "động thái lạ" này thưa ông khi trong trường hợp này, nông nghiệp của chúng ta dường như đã bị phụ thuộc Trung Quốc cả khâu đầu vào, cả khâu tiêu thụ?

ĐBQH Bùi Đức Thụ: - Việc giảm XNK vào một thị trường Trung Quốc nếu dùng biện pháp hành chính nó sẽ mâu thuẫn với những cam kết thỏa thuận thương mại giữa hai nước cũng như xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu mà Việt Nam đã ký kết, mà Việt Nam cũng là một trong những thành viên của WTO. Việt Nam muốn hạn chế chỉ có thể nâng cao hàng rào kỹ thuật nhằm điều tiết hoạt động XNK, hạn chế tình trạng nhập khẩu ồ ạt tránh sản phẩm kém chất lượng, hàng giả hàng nhái tràn vào thị trường nội địa. Để làm được việc này, bắt buộc mọi quy định phải được đặt trên vấn đề lợi ích. 

Phải thừa nhận hàng hóa của Việt Nam chủ yếu nhập khẩu vừa qua là máy móc, thiết bị kỹ thuật đầu vào cho sản xuất, ngay cả phân bón, giống má… nhưng ngành hàng này Trung Quốc và một số nước ASEAN đang có lợi thế, chất lượng cũng đảm bảo, giá cả hợp lý. Máy móc chất lượgg  không cao nhưng giá phù hợp, công năng sử dụng hợp lý nên vẫn được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận.

Nếu bây giờ ngăn cản được việc này, buộc các DN Việt Nam phải tiêu thụ các sản phẩm của những nhà cung cấp khác và phải chấp nhận giá cao hơn, công năng sử dụng không đa dạng hóa, đứng ở góc độ quyền của người tiêu dùng họ không chấp nhận như vậy. Đứng ở góc độ nào đó phải nói rằng hàng hóa của Trung Quốc phù hợp với sức mua, đáp ứng được công năng, yêu cầu của người tiêu dùng, đó là lợi thế của hàng hóa Trung Quốc.

Vì vậy, dù muốn hay không muốn việc nhập khẩu của các cá nhân, tổ chức DN Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc và chiếm tỉ trọng lớn.

PV:- Như vậy, dùng từ "phụ thuộc" trong trường hợp này đã đúng chưa? Trong nền kinh tế Việt Nam, có trường hợp này bị phụ thuộc tương tự như nông nghiệp nữa không, thưa ông?

ĐBQH Bùi Đức Thụ: - Phụ thuộc phải xem thế nào được gọi là phụ thuộc, nếu xét trên tổng kim ngạch XNK, năm 2014 dự kiến xuất khẩu 148 tỷ đô, nhập là 146,5 tỷ đô, dự kiến tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm nay sẽ chạm ngưỡng 15 tỉ đô la Mỹ, còn nhập khẩu từ Mỹ là 40 tỉ đô la. Như vậy, tỉ trọng XNK của Việt Nam với thị trường Trung Quốc cũng chỉ chiếm một tỉ trọng nhất định, đứng ở góc độ đó không thể nói là phụ thuộc.

Nhưng đứng ở từng ngành hàng cá biệt như nguyên vật liệu dệt may, cao su, lúa gạo thì XNK Việt Nam đã phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và đang chiếm tỉ trọng lớn. 

Đó là trong nông nghiệp, còn trong công nghiệp nhẹ như dệt may, nhuộm Việt Nam cũng đang phụ thuộc vào Trung Quốc và chủ yếu phải nhập nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất như bông, sợi, thậm chí như cái cúc áo phần lớn chúng ta cũng đang nhập từ Trung Quốc.

Từ bối cảnh đó, Việt Nam đã đặt ra định hướng một mặt đa dạng hóa thị trường, mặt khác Quốc hội cũng mong muốn có định hướng nội địa hàng hóa những mặt hàng trong nước, ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ. Trong kỳ họp Quốc hội lần này, một trong những kiến nghị sẽ được trình ra Quốc hội là xem xét ưu đãi về thuế với các ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh.

Thoát Trung phụ thuộc vào nỗ lực của các DN

PV:- Nhìn tổng thể nền kinh tế, liệu ông có thể đánh giá, doanh nghiệp thuộc khu vực nào có nỗ lực thoát khỏi sự phụ thuộc thị trường Trung Quốc nhiều nhất? Vì sao lại như vậy? Nhìn vào nỗ lực của các doanh nghiệp đó, ông có đề xuất giải pháp gì để việc "thoát Trung" không còn là "ý chí" mà phải biến thành hành động cụ thể và có hiệu quả?

ĐBQH Bùi Đức Thụ: - Nỗ lực thoát Trung của riêng từng lĩnh vực chỉ cần nhìn vào tỉ trọng nguyên nhiên vật liệu là thấy lĩnh vực nào nỗ lực thoát trung nhiều nhất.

Nhưng quan trọng là phải có bước đi cụ thể, DN phải xâm nhập được vào thị trường mới có hiệu quả hơn; sản xuất hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu thì phải có chính sách đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ cho DN sản xuất mặt hàng này.

Tất cả các giải pháp này hầu hết đã được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo, tuy nhiên để nó đi vào thực tiễn và mang lại hiệu quả thì phải chờ thêm thời gian. Nhưng, để có chuyển động tích cực trước hết phải phụ thuộc vào nội lực tự thân của doanh nghiệp, phải nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả cạnh tranh, đáp ứng được yêu cầu của quốc tế. Nhà nước chỉ làm bệ đỡ trong hỗ trợ DN vè chính sách.

'Thoát Trung': Doanh nghiệp đừng khư khư dựa lưng vào Trung Quốc

Hiện nay khu vực tư nhân cũng thể hiện một số nỗ lực đi đầu trong việc thoát Trung nhưng phải nhấn mạnh rằng, kinh tế của Việt Nam có xuất phát điểm thấp, lại đi sau các nước nên cả khu vực tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước đều tham gia quá trình phát triển hội nhập kinh tế quốc tế chậm.

Trong số 148 tỷ đô la xuất khẩu năm 2013-2014, 2/3 thuộc về DN FDI, khu vực sản xuất trong nước chỉ chiếm 1/3. Cả nước dự kiến thặng dư xuất siêu khoảng từ 1,5-2 tỷ đô, trong khi đó khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu hơn 10 tỷ đô. Như vậy có nghĩa khu vực sản xuất trong nước lại đang đi nhập siêu còn khu vực nước ngoài lại tích cực xuất siêu.

Điều này đồng nghĩa với việc sức cạnh tranh cũng khả năng xâm nhập, mở rộng thị trường đối với hàng hóa của Việt Nam là hết sức hạn chế.

PV:- Xin cảm ơn ông!

Hiếu Lam

Thứ Bảy, 25/10/2014 06:36

Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện