Từ hợp tác Việt-Nhật: Nhìn bước tiến đáng nể quốc phòng Nhật

(Bí mật quân sự) - Năm 1977, Hải quân Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận máy bay tuần tiễu P-3C “Orion” đầu tiên để thay thế cho các máy bay P-2J của Nhật đã lạc hậu.

Ba chiếc P-3C đầu tiên do Hãng “ Lockheed” lắp ráp, 05 chiếc tiếp theo được lắp ráp tại Nhật từ các bộ phận ,chi tiết và linh kiện ( gọi chung là linh kiện) của Mỹ, 92 chiếc còn lại hoàn toàn từ linh kiện của Nhật- do Hãng “Kawasaki Heavy Industries” sản xuất. Những chiếc P-3C cuối cùng được chuyển giao cho Lực lượng phòng vệ vào tháng 9/1997.

Trong qúa trình sản xuất theo giấy phép, “ Orion” đã nhiều lần được cải tiến. Bắt đầu từ chiếc thứ 46, hệ thống radar và bộ xử lý các tín hiệu thủy âm được hiện đại hóa, “ Orion” được lắp thêm hệ thống tác chiến điện tử. Trên 45 chiếc trước đó, toàn bộ hệ thống vô tuyến điện tử được thay thế.

P-3C của Nhật Bản
P-3C của Nhật Bản

Trong trang bị của Hải quân Nhật Bản có 04 chiếc máy bay trinh sát vô tuyến điện tử EP-3E. Chúng được đưa vào biên chế trong các năm từ 1991 đến 1998. Các máy bay này do Nhật Bản thiết kế và sản xuất.

Năm 1978, các cơ sở đào tạo phi công của Không quân Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận máy bay huấn luyện T-3. Đây là loại máy bay động cơ pitong hạng nhẹ công suất 340 sức ngựa, có tốc độ tối đa 367 km/h do Hãng Fuji thiết kế dựa theo mẫu máy bay Beech Nodal 45 Mentor của Mỹ.

Máy bay huấn luyện Т-3
Máy bay huấn luyện Т-3

Trong khoảng thời giai từ 3/1978 đến đến 02/1982, Không quân Nhật Bản đã tiếp nhận 50 T-3. Chúng trực chiến đến năm 2007. Thành phần chủ yếu của Không quân chiến đấu Nhật là các máy bay tiêm kích F-15J được lắp ráp tại Mỹ hoặc tại Nhật Bản theo giấy phép. Công ty “ Mitsubishi” từ năm 1982 đến năm 1999 đã lắp ráp tổng cộng 223 chiếc F-15J.

F-15J
F-15J

Về kết cấu và các tính năng, F-15J của Nhật tương đương với F-15C, nhưng có trang bị tác chiến điện tử gọn nhẹ hơn. Hiện nay, còn 153 F-15J và 45 máy bay huấn luyện F-15DJ đang trực chiến.

Những chiếc máy bay huấn luyện phản lực siêu âm T-2 mà Không quân Nhật sở hữu trong những năm 70 có chi phí khai thác đắt đỏ và tính năng của chúng không đáp ứng các tiêu chí mà Không quân Nhật đặt ra. Chính vì vậy mà đầu những năm 80, Hãng “ Kawasaki” bắt đầu thiết kế các máy bay huấn luyện mới theo đơn đặt hàng của Lực lượng phòng vệ Nhật.

Do máy bay mới sẽ thực hiện các nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng tác chiến nên đó phải đạt các yêu cầu sau: có tính cơ động cao và tốc độ cận âm, cửa mái buồng lái phi công cao và buồng lái bố trí gần mũi máy bay để tăng khả năng quan sát phía trước và phía dưới cho phi công.

Chiếc máy bay mới đáp ứng các yêu cầu trên có tên là T-4, cất cánh thử nghiệm lần đầu vào tháng 7/1985. Đến tháng 9/1988, chiếc T-4 đầu tiên được bàn giao cho Không quân. Đến tháng 9/2000, Không quân Nhật đặt hàng tổng cộng 212 chiếc T-4, chiếc cuối cùng trong số này được bàn giao tháng 3/2003.

Máy bay huấn luyện Т-4
Máy bay huấn luyện Т-4

T-4 là máy bay huấn luyện cận âm tương đối điển hình và nếu so sánh về tính năng thì có lẽ T-4 là loại máy bay chuyển tiếp giữa các kiểu máy bay huấn luyện Aero L-39 Albatros và Hawker Siddeley Hawk. T-4 không có vũ khí gắn trên máy bay nhưng có 05 móc treo có thể treo vũ khí để huấn luyện và hỗ trợ trực tiếp cho bộ binh. T-4 có thể mang 03 thùng dầu phụ.

Từ giữa những năm 80, Không quân Nhật Bản cần loại máy bay tiêm kích mới để thay thế máy bay tiêm kích- ném bom F-1. Ban đầu, Không quân Nhật định chọn F-16C. Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu và đàm phán sơ bộ với Công ty Mỹ “ General Dynamics”, Nhật bản đã quyết định tự thiết kế - chế tạo , tận dụng một số giải pháp kỹ thuật khi thiết kế F-16C và sử dụng một số linh kiện của F-16.

Sau khi trở thành cường quốc kinh tế, Đất nước Mặt trời mọc không cho phép mình đứng ngoài cuộc cạnh tranh với các cường quốc khác trên thế giới trong ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao nhất – công nghiệp hàng không quân sự.

Khi chế tạo các máy bay tiêm kích chung “ Nhật- Mỹ”, các kỹ sư Nhật thường ứng dụng những thành tựu mới nhất của công nghiệp Nhật Bản trong lĩnh vực vật liệu composit, kim loại, công nghệ gia công kim loại, lớp phủ hấp thụ sóng vô tuyến … Ngoài Hãng “ Mitsubishi, tham gia vào các dự án hàng không còn có “ Fuji”, “ Kawasaki” và công ty Mỹ “ Lockheed Martin”.

Tuy bề ngoài, các máy bay Nhật có hình dáng tương đối giống các máy bay cùng lớp của Mỹ, nhưng phải coi đây là các máy bay mới khác hẳn với nguyên mẫu ( Mỹ) không chỉ về kết cấu mà còn về vật liệu, các hệ thống trên máy bay, thiết bị vô tuyến điện tử và vũ khí.

Dưới đây là một ví dụ:

F-16C (Block 40) (Mỹ) và F-2А (Nhật)
F-16C (Block 40) (Mỹ) và F-2А (Nhật)

Nếu so sánh với máy bay Mỹ, các máy bay Nhật sử dụng nhiều vật liệu composit hơn và vì thế máy bay Nhật có trọng lượng nhỏ hơn. Nhìn chung, kết cấu máy bay Nhật đơn giản hơn. Như trên đã thấy, cánh của F-2 Nhật khác hẳn F-16 Mỹ, nó có diện tích lớn hơn 25% so với cánh của F-16.

Tuy động cơ của F-2 là F-110-GE-129 của General Electric nhưng những trang thiết bị còn lại trên máy bay hoàn toàn được sản xuất tại Nhật (có sử dụng một phần công nghệ Mỹ). Radar mạng pha chủ động là do “ Mitsubishi Electric” thiết kế và sản xuất.

F-2А
F-2А

Chiếc F-2 nguyên mẫu được lắp ráp tại nhà máy của “ Mitsubishi”. Chuyến bay đầu tiên được thực hiện ngày 07/10/1995. Chính phủ Nhật ra quyết định cho sản xuất hàng loạt vào tháng 9/1996, lô đầu tiên được bàn giao năm 2000. Từ năm 2000 đến năm 2010 đã có 94 chiếc máy bay tiêm kích kiểu này được xuất xưởng, trong đó có 36 chiếc hai chỗ ngồi F-2B.

Chức năng chủ yếu của F-2 là chiếm ưu thế trên không và thực hiện nhiệm vụ phòng không cho các đảo, sử dụng tên lửa có cánh chống hạm để tiêu diệt các tàu nổi của đối phương.

Vũ khí của F-2 chủ yếu do Mỹ sản xuất, phía trái buồng lái lắp pháo 20 ly M61A1 “ Vulcan”. Có 13 móc treo – 02 ở mũi cánh (tên lửa có điều khiển lớp “ không đối không” cự ly gần), 08 móc dưới cánh và 01 móc dưới thân máy bay. Để tác chiến với các tàu nổi, máy bay có thể mang 02 tên lửa chống hạm ASM-1 đầu tự dẫn chủ động của Hãng Mitsubishi.

Hiện nay, trong biên chế còn hơn 70 chiếc tiêm kích F-2A/B. 18 trong số 94 F-2 có trong biên chế của Không quân Nhật Bản tại căn cứ “ Mashusima “ đã bị hư hòng hoàn toàn trong trận động đất và sóng thần ngày 11/3/2011. Một số chiếc khác bị hư hại nặng, hiện đang được bảo quản tại căn cứ không quân Komaki.

Trong các năm 90 , Hãng Fuji bắt đầu thiết kế máy bay huấn luyện T-7 để thay thế T-3. Điểm khác của T-7 so với T-3 là nó được trang bị thiết bị vô tuyến điện tử hiện đại hơn và động cơ Rolls-Royce 250 công suất 450 sức ngựa , máy bay có thể đạt vận tốc 376km/h.

Máy bay huấn luyện Т-7
Máy bay huấn luyện Т-7

Năm 1998, T-7 đã thắng Pilatus PC-7 của Thụy Sĩ trong cuộc đấu thầu do Không quân Nhật tổ chức. Tuy nhiên, nó đã không được đưa vào sản xuất hàng loạt do liên quan đến vụ bê bối tham nhũng. Trong cuộc đấu thầu lần thứ hai tháng 8/2000, T-7 lại thắng thầu. Từ 9/2002 , Không quân Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận T-7 (tổng cộng đặt hàng 50 chiếc).

Đầu thế kỷ XXI, Tập đoàn “ Kawasaki” lẳng lặng thiết kế máy bay vận tải quân sự thế hệ mới. Trước đó, các nhà thiết kế và kỹ sư của Tập đoàn đã nghiên cứu hết sức chi tiết kết cấu của tất cả các loại máy bay vận tải quân sự hiện có và sẽ có (đang trong giai đoạn nghiên cứu thiết kế).

Sau khi các tướng lĩnh Nhật từ chối lời đề nghị của “ đối tác Mỹ” cung cấp máy bay C-130J của “ Lockheed Martin” và C-15 của “Boeing ”, Nhật Bản chính thức khởi động chương trình tự mình chế tạo máy bay vận tải quân sự.

Lý do công khai được đưa ra giải thích việc từ chối các máy bay vận tải quân sự của Mỹ là các máy bay này không đáp ứng được các tiêu chí chuyên biệt của Không quân Nhật, nhưng dĩ nhiên là không phải thế - Nhật Bản có tham vọng lớn trong công nghiệp hàng không- vũ trụ.

Nhiệm vụ kỹ thuật đặt ra cho các nhà thiết kế là máy bay vận tải quân sự mới cần phải có các tính năng vượt trội các máy bay C-1A và C-130 đang có trong trang bị lúc đó. Trước hết là tăng khối lượng hàng vận chuyển và kích thước khoang chứa hàng.

Máy bay mới (có tên là C-2) này cần phải chuyên chở được tất cả các loại phương tiện kỹ thuật quân sự hiện có và sẽ có của lục quân (C-1A và C-130 không thực hiện được chức năng này).

Có thông tin là với trọng lượng cất cánh 120 tấn, C-2 có thể cất cánh ở các đường băng ngắn (ít hơn 900 m), còn nếu với đường băng tiêu chuẩn (2.300 m) có thể mang được 37,6 tấn hàng (trọng lượng cất cánh 141 tấn). Máy bay vận tải của Nhật có các tính năng tương đương với A400M của Châu Âu.

Máy bay С-2
Máy bay С-2

C-2 được trang bị các hệ thống lập chương trình bay(kể cả ở độ cao cực thấp), thiết bị nhìn đêm, thiết bị bốc và dỡ hàng tự động và hệ thống tiếp dầu trên không.

Khác với các máy bay vận tải quân sự thế hệ trước, C-2 đáp ứng các tiêu chí để thể bay theo các đường bay thương mại. Hiện nay, các nhà thiết kế Nhật đang nghiên cứu phiên bản máy bay vận tải dân sự phát triển từ C-2.

C-2 cất cánh lần đầu ngày 26/01/2010 . Đến thời điểm này ( 01/2015). “ Kawasaki” đã bàn giao cho Không quân Nhật 04 chiếc C-2 và chúng đang được thủ nghiệm tại các đơn vị Không quân Nhật. Dự tính sẽ sản xuất 40 chiếc C-2 cho Không quân Nhật Bản.

Hải quân Nhật hiện cũng đang có nhu cầu phải thay thế P-3 “ Orion”. Tuy nhiên, đề nghị của Mỹ cung cấp cho nước này các máy bay tuần tiễu- chống ngầm P-8 “ Poseidon” đã bị chính phủ Nhật nhã nhặn từ chối – lý do: “ Poseidon” chủ yếu bay tuần tiễu và săn tàu ngầm ở độ cao trung bình, còn Không quân của Hải quân Nhật Bản cần loại máy bay bay ở độ cao thấp trong một thời gian dài.

Đấy là lý do được đưa ra, còn trên thực tế thì song song với việc thiết kế máy bay vận tải C-2, Tập đoàn “ Kawasaki” đã tiến hành thiết kế máy bay tuần tiễu - chống ngầm trên biển để thay thế P-3.

Máy bay Р-1
Máy bay Р-1

P-1 được trang bị động cơ hoàn toàn do Nhật thiết kế và sản xuất Ishikawajima-Harima Heavy Industries XF7-10.

Trang thiết bị lắp đặt trên P-1 có khả năng không thua kém trang thiết bị của P-8 “ Poseidon” của Mỹ. Máy bay chống ngàm P-1 có khoang chứa các ngư lôi hoặc bom rơi tự do. Trên 08 móc treo dưới cánh có lắp các tên lửa chống tàu. Tải trọng hữu ích tối đa của máy bay lên tới 9 tấn.

Hiện nay đã có một số máy máy tuần tiễu P-1 được trang bị cho Không quân Hải quân. Bộ Quốc phòng Nhật dự định mua 70 máy bay loại này để thay thế cho 80 chiếc P-3C.

Tuy số lượng máy bay tuần tiễu của Nhật có giảm đi nhưng sức mạnh tổng thể của chúng không giảm vì các máy bay mới này có ưu thế rõ rệt cả về khả năng sục sạo và tốc độ trước các máy bay cũ ( P-3C). Nói cách khác, trong trường hợp này, chất lượng bù số lượng.

Theo quan điểm của rất nhiều chuyên gia hàng không thế giới, P-1 có tiềm năng xuất khẩu rất lớn. Thứ nhất là về giá cả: trong trường hợp tăng số lượng xuất xưởng loại máy bay này, giá của mỗi P-1 (hiện nay là 208,3 triệu đô la) sẽ có thể còn giảm sâu và như vậy nó có thể là đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với P-8 của Mỹ (giá 220 triệu đô la) – để tham khảo – giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam tháng 11/2013 là 390 đến 400 đô la.

Thứ hai: trong khi đó, P-1 của Nhật không hề thua kém P-8 của Mỹ trong khả năng phát hiện các tàu ngầm . Ưu thế của P-8 trước P-1 là thời gian bay tuần tiễu dài hơn (hơn 01 giờ), nhưng đối với các khách hàng tiềm năng (khác với Mỹ ở chỗ không có tham vọng kiểm soát toàn bộ các đại dương) thì P-1 thích hợp hơn nhiều.

Không những thế, P-1 tỏ ra rất hiệu quả khi thực hiện các chuyến bay ở độ cao thấp, và đây là một ưu thế rất quan trọng nữa khi tiến hành các nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn trên biển. Cuối năm 2014, đã có thông tin là Hải quân Anh đang quan tâm đến P-1 (sau khi thanh lý các máy bay tuần tiễu “ Nimrod” , Hải quân Anh hiện không có không quân tuần tiễu- chống ngầm).

Dự án gần đây nhất và tham vọng nhất của công nghiệp hàng không Nhật bản trong lĩnh vực máy bay chiến đấu là chế tạo máy bay tiêm kích thế hệ 5 F-X. Công tác thiết kế được bắt đầu từ năm 2004 sau khi Mỹ từ chối cung cấp cho Không quân Nhật máy bay tiêm kích F-22A.

Về thiết kế khí động lực và hình dáng thì máy bay tiêm kích thế hệ 5 Mitsubishi ATD-X Shinshin của Nhật rất giống với tiêm kích F-22A của Mỹ. Động cơ tuabin phản lực được sử dụng trên máy bay cho phép máy bay có thế đạt tốc độ gấp nhiều lần tốc độ âm thanh. Theo kế hoạch thì dự án phải kết thúc trước năm 2015, nhưng nhiều khả năng là sẽ phải gia hạn.

Theo tin đồn, ATD-X Shinshin được trang bị hệ thống tự sửa chữa Self-Repairing Flight Control Capability. Hệ thống này kiểm soát toàn bộ kết cấu và các chi tiết của máy bay và nhờ các dữ liệu thu thập được có thể phát hiện và nhận biết bất cứ trục trặc, hỏng hóc nào và cài đặt lại chương trình điều khiển để có thể điều khiển tối ưu máy bay trong điều kiện có những trục trặc như vậy.

Nguyên mẫu máy bay tiêm kích thế hệ 5 ATD-X của Nhật
Nguyên mẫu máy bay tiêm kích thế hệ 5 ATD-X của Nhật

Ngày 12/7/2014, Viện nghiên cứu và thiết kế ( TRDI) của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản đã cho công bố các bức ảnh chính thức đầu tiên của mẫu máy bay thử nghiệm thế hệ 5 ATD-X. Máy bay này do TRDI và Mitsubishi Heavy Industries cùng thiết kế này đã được lắp ráp tại một nhà máy ở Tobosima.

Hiện nay, trong biên chế của Không quân và Không quân của Hải quân Nhật Bản có gần 700 máy bay các loại. Đại đa số trong số đó là các máy bay hiện đại. Cũng cần phải thấy rằng, tỷ lệ các máy bay có thể sẵn sàng tham chiến còn cáo hơn cả của Không quân Mỹ.

Sở dĩ như vậy vì Nhật có một mạng lưới các nhà máy sửa chữa và bảo dưỡng rất tốt và người Nhật rất quan tâm đến việc xây dựng các cơ sở bảo quản máy bay để chống lại các tác động bất lợi của thời tiết và khí hậu.

Điểm yếu của Không quân Nhật Bản, theo quan điểm của chuyên gia quân sự Nga X.Linnhik (đăng trên “ Bình luận quân sự” Nga , 01/2015 ) vẫn là “quan điểm thiên về phòng thủ “.

Các máy bay tiêm kích Nhật được sử dụng chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ phòng không và không có khả năng tiến hành các đòn tiến công các mục tiêu trên mặt đất. Có lẽ nhược điểm này sẽ được khắc phục ngay trong năm 2015 này khi lô máy bay tiêm kích F-35A (42 chiếc ) được đưa vào trang bị.

Nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng tiềm lực tấn công các mục tiêu mặt đất của Không quân Nhật cũng có cái lý của nó vì nếu xảy ra xung đột vũ trang với quốc gia láng giềng nào đó thì Nhật Bản sẽ được Tập đoàn quân không quân số 5 của Mỹ (Bộ tham mưu đóng tại căn cứ không quân Iokota) với các máy bay hiện đại nhất, trong đó có máy bay thế hệ 5 F-22A hỗ trợ.

Đấy là chưa kể đến không quân hải quân của Hạm đội 7 Mỹ luôn túc trực ở phía tây Thái Bình Dương (Bộ tham mưu của Hạm đội 7 đóng tại căn cứ Iokosuka). Trong khu vực này, có cụm tàu sân bay tấn công của Hải quân Mỹ với ít nhất là 01 tàu sân bay luôn trong trạng thái sẵn sàng tham chiến.

Kết luận

Ngoài việc sản xuất theo giấy phép các phương tiện kỹ thuật hàng không của nước ngoài, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hàng không Nhật Bản (nhất là trong những năm gần đây) đã cho thấy rõ là nước này hoàn toàn có khả năng thiết kế và sản xuất các mẫu máy bay theo các tiêu chuẩn thế giới hiện đại nhất.

Nhật Bản không còn tự bằng lòng với những máy bay của Mỹ và phụ thuộc vào ý chí chính trị trong mối quan hệ với Mỹ.

Ngoài ra, trong thời gian gần đây xu hướng từ bỏ các “ nguyên tắc thiên về phòng thủ” trong xây dựng lực lượng vũ trang Nhật Bản đang ngày càng thể hiện rõ qua việc đưa vào trang bị cho lực lượng vũ trang các máy bay do các kỹ sư Nhật tự thiết kế và sản xuất . Có rất nhiều điều đáng học tập từ người Nhật.

      Australia khiến Nhật Bản 'chết điếng'

  • Lê Hùng

Thứ Tư, 04/02/2015 07:55

Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện