Từ hợp tác Việt-Nhật: Nhìn bước tiến đáng nể quốc phòng Nhật

(Vũ khí) - Chiều 28/1, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã tiếp Ngài Tokuchi Hideshi, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản nhân dịp sang thăm và làm việc tại Việt Nam.

Cả hai bên đều khẳng định là trong những năm qua, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam-Nhật Bản đã có bước phát triển mới và ngày phát huy hiệu quả, tương xứng với mối quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược giữa hai nước.

Nhân sự kiện này, có lẽ nên tìm hiểu thêm về sức mạnh của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản và công nghiệp quốc phòng Nhật Bản. Trước hết, về công nghiệp hàng không.

Mốc thời gian được tính từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai – cũng là một dịp để chúng ta phần nào hiểu được người Nhật và các thế hệ lãnh đạo kế tiếp nhau của họ đã biến nước Nhật từ một nước bại trận (dĩ nhiên là không có vòng hào quang chiến thắng) thành một cường quốc như thế nào (và nhân tiện bạn đọc có thể đối chiếu với “công cuộc nội địa hóa”ở ta) .

Sau Chiến tranh thế giới thế giới lần thứ hai, Nhật Bản là một lãnh thổ bị chiếm đóng và bị cấm không được thành lập Lực lượng vũ trang riêng. Theo Hiến pháp 1947, Nhật Bản không có quyền thành lập Lực lượng vũ trang và quyền tiến hành chiến tranh. Tuy nhiên, đến năm 1952, nước này đã thành lập Lực lượng an ninh quốc gia, và đến năm 1964, Lực lượng này được đổi tên thành Lực lượng phòng vệ Nhật Bản.

Về mặt hình thức, Lực lượng phòng vệ không được coi là Lực lượng vũ trang và tại chính nước Nhật, nó được coi là một ngành dân sự.

Tuy nhiên, cần lưu ý đến một thực tế: “ Tổ chức phi quân sự này” có ngân sách 59 tỷ đô la/năm (số liệu của báo Nga – thông tin mới nhất, thủ tướng S.Abe cho biết là trong tháng 01/2015, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua khoản ngân sách dành cho quốc phòng năm tài khóa 2015 – từ 01/4/2015 đến 31/3/2016 là 4,98 nghìn tỷ yên tức 41,97 tỷ đô la, về vấn đề này, xin trình bày ở một bài khác) với quân số gần 250.000 người được trang bị các loại vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại.

Đồng thời với việc thành lập Lực lượng phòng vệ, Nhật Bản cũng tiến hành xây dựng lại Không quân – Không quân phòng vệ Nhật Bản ( sau đây gọi là Không quân) .

Tháng 3/1954, Nhật Bản ký với Mỹ Hiệp ước về viện trợ quân sự, tháng 01/1960 , hai nước lại ký tiếp “Hiệp ước về hợp tác và đảm bảo an ninh”.

Theo các hiệp ước trên, Không quân Nhật Bản sẽ nhận các phương tiện kỹ thuật hàng không do Mỹ sản xuất.

Không đoàn đầu tiên của Không quân Nhật Bản được thành lập ngày 01/10/1956 gồm 68 chiếc T-33A và 20 chiếc F-86F.

Máy bay tiêm kích F-86F của Không quân Nhật Bản
Máy bay tiêm kích F-86F của Không quân Nhật Bản

Năm 1957, Nhật Bản bắt đầu sản xuất theo giấy phép các máy bay tiêm kích F-86F “ Sabre” của Mỹ. Công ty “Mitsubishi” từ năm 1956 đến 1961 đã cho xuất xưởng 300 chiếc F-86F. Các máy bay nói trên trực chiến cho đến tận năm 1982.

Sau khi đưa F-86F vào trang bị và bắt đầu sản xuất theo giấy phép loại máy bay này, Không quân Nhật Bản đứng trước yêu cầu phải được trang bị máy bay huấn luyện 02 chỗ ngồi có các tính năng kỹ thuật tương đương với các máy bay tiêm kích chiến đấu.

Các máy bay huấn luyện T-33 (tổng cộng 210 chiếc ) được chế tạo theo mẫu máy bay tiêm kích phản lực F-80 “ Shooting Star” của Mỹ của công ty “Kawasaki” đã không đáp ứng đầy đủ các tiêu chi đề ra.

Để giải quyết vấn đề này, công ty “Fuji” đã thiết kế máy bay huấn luyện T-1 theo mẫu tiêm kích F-86F “ Cabre” của Mỹ. Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của T-1 được thực hiện năm 1958 . Do có một số trục trặc về động cơ trong thiết kế của các kỹ sư Nhật Bản nên trong phiên bản đầu, T-1 được trang bị động cơ Bristol Aero Engines Orpheus của Anh .

Máy bay huấn luyện Т-1của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản
Máy bay huấn luyện Т-1của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản

T-1 được công nhận là đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật của Không quân , sau đó được đặt hàng 02 lô với tên gọi là T-1A . Cả 02 lô T-1A được giao cho Không quân trong các năm 1961-1962 . Từ 09/1962 đến 06/1963 , có thêm 20 chiếc T-1B được lắp động cơ tuabin khí Ishikawajima-Harima J3-IHI-3 sức đẩy 11,77 кN do Nhật Bản sản xuất .

Như vậy, máy bay huấn luyện T-1 là máy bay phản lực đầu tiên do Nhật Bản sản xuất sau chiến tranh – toàn bộ công tác thiết kế, sản xuất linh kiện thiết bị, chi tiết máy v.v đều được thực hiện trên đất Nhật .

Không quân Nhật Bản đã khai thác T-1 trong hơn 40 năm, đã có nhiều thế hệ phi công Nhật Bản được đào tạo trên những chiếc máy bay này. Chiếc T-1 cuối cùng được đưa ra khỏi trang bị vào năm 2006.

T-1 có trọng lượng cất cánh 5 tấn , tốc độ tối đa 930 km/h. Được trang bị 01 súng máy 12,7 ly , có thể mang một khối lượng vũ khí đến 700 kg (tên lửa không điều khiển hoặc bom). T-1 có các tính năng chủ yếu tương đương với loại máy bay huấn luyện , huấn luyện - tác chiến rất phổ biến của Liên Xô là MiG-15.

Năm 1959, công ty Nhật “Kawasaki” được cấp giấy phép sản xuất máy bay tuần tiễu- chống ngầm của Hải quân P-2H “Neptune” của Hãng Lockheed. Từ năm 1959, đã có 48 chiếc P-2H được xuất xưởng.

Năm 1961, “Kawasaki” bắt đầu thiết kế biến thể “Neptune” của Nhật Bản. Biến thể mới này có ký hiệu P-2J.

Điều đáng chú ý là động cơ pitong được thay bằng các động cơ cánh quạt turbo T64-IHI-10 công suất 2.850 sức ngựa do chính Nhật Bản sản xuất .

Máy bay tuần tiễu biển Kawasaki P-2J
Máy bay tuần tiễu biển Kawasaki P-2J

Bắt đầu từ tháng 8/1069, các máy bay P-2J được sản xuất hàng loạt. Trong giai đoạn từ năm 1969 đến 1982, đã có 82 chiếc được chuyển giao. Các máy bay tuần tiễu kiểu này nằm trong biên chế của Không quân Hải quân Nhật Bản đến năm 1996.

Đến đầu những năm 60, các máy bay phản lực cận âm Mỹ F-86 đã không còn đáp ứng được những yêu cầu hiện đại. Bộ Tư lệnh Lực lượng phòng vệ Nhật Bản bắt đầu tìm kiếm loại máy bay thay thế, ưu tiên hàng đầu là phải có tốc độ cao .

Giới chức Lực lượng phòng vệ Nhật Bản cho rằng, loại máy bay tiêm kích siêu âm của Mỹ Lockheed F-104 “ Starfighter” được thiết kế vào cuối những năm 50 hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu trên .

Như đã biết, với tốc độ cao, “ Starfighter” còn được gọi là “tên lửa có người lái” . Tuy nhiên, F-104 không được các phi công Mỹ đánh giá cao vì hay gặp sự cố, có lẽ vì thế mà F-104 được chào hàng cho các đồng minh.

Trong cuối những năm 50, mặc dù hay gặp sự cố kỹ thuật như đã nói ở trên nhưng “Starfighter” với nhiều biến thể là một trong những loại máy bay chủ yếu có trong trang bị của không quân nhiều nước, trong đó có Nhật Bản.

Ngày 08/3/1962, chiếc “Starfighter” đầu tiên do Nhật Bản lắp ráp đã được xuất xưởng. Về hình dáng và kết cấu, nó không khác gì F-104G (Germany) của Đức , còn chữ cái “J” (Japan- Nhật Bản).

F-104J
F-104J

Tổng cộng từ năm 1961 , Không quân Nhật Bản đã tiếp nhận 210 chiếc “Starfighter”, trong đó có 178 chiếc được Hãng Mitsubishi lắp ráp tại Nhật bản theo giấy phép.

Từ năm 1962, Nhật Bản bắt đầu sản xuất chiếc máy bay chở khách động cơ tuabin phản lực tầm gần và tầm trung đầu tiên. Kiểu máy bay này do Tập đoàn Nihon Aircraft Manufacturing Corporation thiết kế và sản xuất. Thành viên của Tập đoàn này gần như là tất cả các nhà sản xuất máy bay của Nhật như “ Mitsubishi”, “ Kawasaki”, “ Fuji”, Shin Maywa”.

YS-11
YS-11

Máy bay chở khách YS-11 được sử dụng để thay thế “Douglas”DC-3 ở các tuyến bay nội địa và có thể vận chuyển 60 hành khách, tốc độ hành trình 454 km/h . Từ năm 1962 đến 1974, đã có 182 chiếc được xuất xưởng .

Trong số 182 chiếc nói trên, có 82 chiếc được xuất khẩu sang 15 nước. 15 chiếc được chuyển giao cho Không quân Nhật Bản – chúng được sử dụng để chuyển quân và làm công tác huấn luyện. 04 chiếc được cải hoán thành máy bay tác chiến điện tử. Năm 2014 , Nhật Bản đã quyết định thanh lý toàn bộ YS-11.

Đến giữa những năm 60, F-104J được coi là đã lạc hậu . Vì thế đến tháng 1/1969, Chính phủ Nhật quyết định trang bị cho Không quân loại máy bay tiêm kích đánh chặn mới để thay thế cho F-104J. Loại máy bay được lựa chọn là máy bay tiêm kích đa năng thế hệ ba F-4E “Phantom” .

Người Nhật yêu cầu phía Mỹ cung cấp cho Nhật máy bay F-4EJ chỉ chuyên chức năng tiêm kích-đánh chặn (vì liên quan đến chính sách chuyên về phòng ngự của Nhật Bản). Phía Mỹ đồng ý và tháo dỡ toàn bộ các trang thiết bị có chức năng tiêu diệt các mục tiêu trên mặt đất và tăng cường vũ khí “không đối không” cho F-4EJ.

F-4FJ
F-4FJ

Chiếc máy bay đầu tiên do Nhật Bản lắp ráp theo giấy phép cất cánh ngày 12/5/1972 . “ Mitsubishi” đã sản xuất theo giấy phép tổng cộng 127 chiếc F-4FJ.

Năm 1978 , Nhật Bản và Mỹ ký văn kiện “Những nguyên tắc hợp tác quốc phòng Nhật-Mỹ”. Từ thời điểm đó có rất nhiều sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề, kể cả về tính năng kỹ thuật của các máy bay trong Lực lượng phòng vệ Nhật Bản: Nhật Bản bắt đầu định hướng tham gia vào các hoạt động tấn công chung với Mỹ .

Một số dẫn chứng: các máy bay tiêm kích F-4EJ được lắp đặt các thiết bị tiếp dầu trên không. Chiếc “Phantom” cuối cùng của Không quân Nhật Bản được xuất xưởng năm 1981 nhưng ngay năm 1984, Nhật Bản đã có chương trình tăng hạn cho loại máy bay này .

Cũng từ năm này, “Phantom” được lắp đặt thêm thiết bị ném bom. Những máy bay được cải hoán này được đặt tên là Kai . Phần lớn các máy bay “Phantom” còn hạn sử dụng đều được hiện đại hóa .

Máy bay tiêm kích F-4EJ Kai đến nay vẫn đang phục vụ trong biên chế của Không quân Nhật Bản. Trong thời gian gần đây, mỗi năm Không quân Nhật đưa ra khỏi trang bị 10 chiếc máy bay kiểu này. Hiện còn 50 chiếc F-4EJ Kai và máy bay trinh sát RF-4EJ đang trực chiến. Có lẽ các máy bay này sẽ được thanh lý toàn bộ sau khi Nhật Bản nhận các máy bay tiêm kích F-35A của Mỹ .

Vào đầu những năm 60, Hãng “Kawanishi” ( sau đổi tên là “Shin Maywa” bắt đầu nghiên cứu chế tạo thủy phi cơ chống ngầm thế hệ mới . Đến năm 1966 , hoàn thành công tác thiết kế và năm 1967 , nguyên mẫu của kiểu thủy phi cơ này đã được đưa vào thử nghiệm.

Loại thủy phi cơ này được mang tên PS-1 , có cánh thẳng và cánh đuôi hình chữ T. PS-1 được trang bị 4 động cơ T64 công suất 3.060 sức ngựa.

Để giải quyết nhiệm vụ chống ngầm, PS-1 được trang bị radar sục sạo mạnh, thiết bị đo từ. máy thu và đồng hồ chỉ thị tín hiệu của các phao thủy ấm, hệ thống phát hiện tàu ngầm chủ động và thụ động. Dưới cánh có các móc treo 04 quả ngư lôi chống ngầm .

Tháng 01/1973, chiếc thủy phi cơ PS-1 đầu tiên được đưa vào biên chế. Tổng cộng có tất cả 23 chiếc PS-1 được bàn giao cho Lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Trong quá trình khai thác, có 6 chiếc gặp sự cố và không khắc phục được.

Sau này, Hải quân Nhật Bản không sử dụng PS-1 để chống ngầm, tất cả các PS-1 còn trong biên chế đều chuyển sang thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn trên biển và trang thiết bị chống ngầm trên thủy phi cơ được tháo dỡ .

Thủy phi cơ US-1А
Thủy phi cơ US-1А

Đến năm 1976. Phiên bản máy bay tìm kiếm – cứu nạn mới US-1A được thử nghiệm thành công. Năm 1997 Hải quân Nhật đã đặt hàng 16 chiếc loại này . Hiện nay, Không quân của Hải quân Nhật Bản có 02 chiếc US-1A.

Tiếp theo đó, phiên bản US-2 có động cơ mạnh hơn và có một số thay đổi về kết cấu và radar ( sử dụng radar Thales Ocean Master) được giới thiệu . Hãng Maywa đã cho xuất xưởng 14 chiếc US-2 . Hải quân Nhật hiện đang khai thác 05 chiếc US02.

US-2
US-2

Đến cuối những năm 60, công nghiệp hàng không Nhật Bản đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất các mẫu máy bay nước ngoài theo giấy phép .

Tiềm lực thiết kế và công nghiệp của Nhật Bản đến thời điểm đó hoàn toàn có thể cho phép Nhật tự mình thiết kế và sản xuất phương tiện kỹ thuật hàng không – với các tính năng kỹ- chiến thuật và các tham số khác không thua kém các tiêu chuẩn thế giới .

Năm 1966, Hãng “Kawasaki” ( trong thành phần của Tập đoàn Nihon Aeroplane Manufacturing Company (NAMC bắt đầu triển khai thiết kế máy bay vận tải quân sự phản lực hai động cơ theo yêu cầu kỹ thuật của Không quân Nhật Bản. Các máy bay vận tải mới này ( để thay thế các máy bay vận tải động cơ pitong do Mỹ sản xuất đã lạc hậu) có tên là C-1.

C-1
C-1

Nguyên mẫu đầu tiên cất cánh tháng 11/1970 , các cuộc thử nghiệm tiếp theo được hoàn thành vào tháng 3/1973. C-1 được trang bị 02 động cơ JT8D-M-9 của Hãng Pratt & Whitney ( Mỹ) sản xuất tại Nhật theo giấy phép . Các thiết bị điện tử của C-1 cho phép loại máy bay này có thể bay trong mọi điều kiện thời tiết và mọi thời gian ngày đêm .

C-1 với tổ lái 5 người có thể vận chuyển được 60 lính bộ binh với đầy đủ trang bị- vũ khí , hoặc 45 lính nhày dù , hoặc 36 cáng thương cho thương binh và những người đi kèm , hoặc các trang thiết bị và hàng hóa khác . Ở phần đuôi, qua cửa vào khoang có thể đưa pháo 105 ly hoặc 01 xe tải 2,5 tấn , hoặc 03 xe ô tô địa hình .

Sau này, C-1 còn một biến thể cải tiến là C-1A. Tổng cộng đã có 31 C-1 và C-1A được đưa vào trang bị . Năm 1980, việc sản xuất C-1 bị dừng lại – nguyên nhân chủ yếu là do sức ép của Mỹ - Mỹ không muốn C-130 của mình có đối thủ cạnh tranh .

Tuy Lực lượng phòng vệ Nhật Bản được xây dựng theo hướng “phòng thủ”, Người Nhật cũng không quên việc hỗ trợ từ trên không cho các phân đội bộ binh. Để làm được được điều đó, cần phải có các máy bay tiêm kích- ném bom không quá đắt tiền .

Đầu những năm 70, quân đội một số nước Châu Âu được trang bị SEPECAT “Jaguar”, giới chức quân sự Nhật Bản cũng muốn có các máy bay tương tự như vậy để thực hiện chức năng trên. Chính thời gian đó công ty “Mitsubishi” cũng đang thiết kế máy bay huấn luyện siêu âm T-2 (có các chức năng như “Jaguar”. Nguyên mẫu T-2 cất cánh lần đầu vào tháng 7/1971 và đây chiếc máy bay phản lực huấn luyện thứ hai do Nhật Bản thiết kế (và sản xuất), và là chiếc máy bay siêu âm đầu tiên của Nhật Bản .

Máy bay huấn luyện T-2 của Nhật Bản
Máy bay huấn luyện T-2 của Nhật Bản

Một phần đáng kể các bộ phận, chi tiết và linh kiện của T-2 là nhập khẩu , trong đó có động cơ R.B.172 D.260-50 “Adour” của “ Rolls-Roys” do Hãng “Ishikawajima”( Nhật) sản xuất theo giấy phép. Từ năm 1975 đến năm 1988 , đã có 90 chiếc T-2 được xuất xưởng, trong đó có 28 chiếc chuyên dùng cho huấn luyện T-2Z và 62 chiếc chiến đấu- huấn luyện T-2K.

T-2 có trọng lượng cất cánh tối đa -12.800 kg , tốc độ tối đa trên cao -1.700 km/h, cự ly bay chuyển sân với thùng dầu phụ -2.870 km. T-2 mang pháo 20 ly, tên lửa và bom ở 7 móc treo , tổng trọng lượng tác chiến 2.700 kg.

Năm 1972, theo đơn đặt hàng của Không quân, Công ty “Mitsubishi” thiết kế máy bay tiêm kích- ném bom một người lái F-1 ( phát triển từ mẫu T-2) . Đây là chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên do Nhật Bản tự thiết kế kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai . Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của F-1 được thực hiện tháng 6/1975 , sản xuất hàng loạt bắt đầu từ năm 1977.

F-1
F-1

Tính năng kỹ chiến thuật của F-1 thua Jaguar của “Anh-Pháp” cả về tải trọng tác chiến , bán kính hoạt động lẫn số lượng xuất xưởng. Tổng cộng đã có 77 chiếc F-1 được bàn giao cho Không quân ( có 573 chiếc “ Jaguar” được xuất xưởng) . Những chiếc F-1 cuối cùng được đưa ra khỏi trang bị vào năm 2006 .

Đài Loan khoe vũ khí nội địa trong tập trận

Còn tiếp

Lê Hùng

Thứ Hai, 02/02/2015 14:16

Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện